Hoa đào xứ Đông

ANTD.VN - Năm 34 sau Công nguyên, vua Quang Vũ nhà Hán sai Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, tàn ác, người Giao Chỉ oán giận lắm.

Minh họa: Trần Đỗ Nghĩa

Lê Chân người làng An Biên, huyện Đông Triều. Làng An Biên nằm kề sông Kinh Thầy, sông Đạm Thủy, lưng tựa vào núi Vàn. Bến nước sông Đạm Thủy là nơi trai gái trong làng đi kín nước, hẹn hò. Mùa xuân, những chum nước mang từ sông về sóng sánh hoa đào, con gái làng An Biên rắc hoa đào dọc lối đi trong vườn.

Hoa đào trước sân nhà, hoa đào cheo leo sườn núi, gió đông lay lắc, hoa đào bay rụng, cánh hoa trải kín vườn, không thấy mặt cỏ xanh bên dưới.

Lê Chân đưa một vốc hoa đào trên tay thả xuống chậu nước. 

- Chưa đến ngày Tết, hoa đào đã tràn khắp mặt đất. Trời chuyển ấm mau, không biết có giữ nổi hoa trên cành.

Đêm trăng.

Lê Chân múa kiếm trong vườn. Bóng áo trắng lướt dưới tán đào, hoa rụng như mưa. Kiếm vun vút, loang loáng. Trên cao đốc xuống, xiên ngang lốc gió, nghiêng người, uốn thân, rạp thấp, kiếm sáng bao tứ phía. Gió cuốn, lá non bay nát, một đường lỡ tay, lưỡi kiếm bập vào thân đào, thân cây rung bần bật, hoa rơi tơi tả. Máu tứa trên cánh tay trần.

Tiếng cha. 

Kiếm nhanh như gió nhưng không động cành, mũi dao nhọn sắc nhưng lặng như nước trong hồ. Kẻ dùng kiếm nhưng không vị kiếm.

Bóng người con gái phi lướt trong vườn, mũi kiếm bay lướt, xoay tròn, nghiêng ngả, xoáy ốc không chạm một cánh hoa đào. Vệt máu tươi thít chặt bằng một dải lụa trắng.

Kiếm bay lên, đốc xuống, quay vòng múa tít. Kiếm bao thân mình, áo người con gái phất phơ tung dạt theo lướt kiếm. Độc kiếm vô hình, bài kiếm thầy Chiêu Độ làng Ngũ Tế truyền dạy.

Kiếm giấu trong vườn đào.

Hoa đào là máu.

Làng An Biên chìm trong ánh trăng mờ, vài hôm nữa mới đến hội mùa xuân, những mái nhà tối sẫm xếp lớp ven đồi. Bờ sông vắng lặng. Không một tiếng chim kêu, gió hun hút táp gốc rạ hơi nồng.

 Thầy đồ Lê Đạo quỳ trước bàn thờ, giọng khản đặc.

- Chỉ dăm hôm nữa là Tết, cầu cho hoa giữ nguyên trên cành, đêm trừ tịch không thấy hoa đào nở, e rằng có chuyện chẳng lành.

Hoa trong vườn run rẩy.

Lê Chân mang cành đào ngoài vườn vào, hoa đào run mờ dưới ánh trăng. Búp hồng he hé chờ ngày khai mãn.

- Hoa đào ngày Tết không thể thiếu được, sau này người có mất mát, trời lẽ thất thường hãy cố giữ lấy cành đào.

Lê Chân cung kính cúi đầu. 

Dưới bến Kinh Thầy, một con thuyền xoay ngang, cây sào cắm trần xuống đáy. Chàng trai lưng trần, tay cầm dải lụa chàm. Mặt sông phẳng lặng, củi khô chạm ván thuyền, triền hoa lau, cỏ muội dạt dạt hai bờ sông. Giờ này không ai ra bến sông kín nước nữa, người đã hẹn nhưng chưa thấy. Dải lụa chàm mua ngoài chợ Cột...

Ánh trăng mờ soi đọng trên bát nước tròng trành đặt giữa sạp thuyền. Ánh trăng lặng cả thuyền. Mắt ta nhìn trong đó, chưa thấy mắt người. Chàng trai chít dải lụa trên tóc, quay mặt về làng An Biên, dò cây sào xuống đáy sông. Tiếng hát mang gió táp bờ sông.

Trong vườn bóng kiếm vẫn loang loáng, nhễ nhại.

Không có người con gái nào ra bến sông như đã hẹn.

Chàng trai cầm sào đâm nát dòng sông. Gió bấc thổi mạnh. Rét buốt.

Hoa đào không giữ được đến ngày cuối. Người con gái xinh đẹp nức tiếng làng An Biên đã đến tai Thái thú quận Giao Chỉ.

Tô Định cao bốn thước rưỡi, râu quặp. Mắt đỏ ngầu, tiếng như ngựa thiến.

Đoàn binh đi đón tì thiếp, vó ngựa tung bụi đất đỏ, hoa đào bị giẫm đạp, vò nát dưới chân.

Ông đồ mắt trợn trừng trừng.

Vó ngựa tung hoành, máu đỏ nhuộm sắc đào, thẫm hơn vừng đông sắp tắt.

Ông đồ ném bầu rượu xuống giữa nhà.

Từng thân đào bị chém đứt, đổ gục.

 Người con gái tài sắc dưới chân núi Vàn cự tuyệt không làm tì thiếp Thái thú quận Giao Chỉ. Máu phun đỏ nhà.

Tiếng cha mẹ kêu than đến xé lòng, đôi mắt cha mở trừng trừng, đôi mắt không bao giờ nhắm được nữa. Bàn tay người con gái nắm chặt lưỡi kiếm, kiếm tuốt một đường giữa lòng bàn tay. Mím môi. Tiếng cha. Kiếm nhanh như gió nhưng không động cành, mũi dao nhọn sắc nhưng lặng như nước trong hồ. 

Lê Chân chạy ra bến Kinh Thầy. Dòng sông u uất lạnh buốt như sông Dịch Thủy. Người quay đầu nhìn lại.

Những mái nhà tối sẫm xếp lớp ven đồi, bờ sông vắng lặng. Tiếng chim kêu thất thanh trong đêm. 

Bến Kinh Thầy.

Con thuyền xoay ngang, cây sào cắm trần xuống đáy, chàng trai tung dải lụa chàm: buộc cho tóc khỏi rối khi múa kiếm.

- Cho tôi đi khỏi nơi này.

- Đi đâu?

- Cứ dọc theo sông, thấy đâu dừng lại được thì dừng.

Chàng trai gồng mình, tay trần khua mái chèo, không một kẻ nào có thể theo kịp. Mắt người con gái lạnh như nước ở đáy sông. Hoa đào tan tác, kiếm sắc vẫn chưa dùng.

Thuyền qua một vùng lau lách, kín lặng.

- Đây là chỗ dừng thuyền.

Năm 40, Tô Định sát hại Thi Sách, chồng của Trưng Trắc, hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị nổi binh ở Hát Môn. Nghĩa quân khắp nơi nhất tề ứng nghĩa.

Vùng đất mới lau lách được Lê Chân đặt tên theo quê cũ An Biên.

Sông Tam Bạc, sông Cấm cũng giống sông Đạm Thủy, sông Kinh Thầy.

Con trai con gái làng An Biên, An Dương luyện tập võ binh, đánh thủy trận, cày cấy, đánh cá.

Nữ tướng vùng An Biên.

Nghĩa sĩ hợp quân về vùng cửa sông. Ba anh em họ Trương ở Thiểm Khê, ba anh em họ Tạ ở Trình Xuyên, Đào Lang ở Cương Nha, Nguyễn Minh ở Tiên Đôi, Đào Quang ở Cự Đôi, Phạm Đầm ở Tam Đa, Lê Ngà tài sắc làm phó tướng.

Tiếng quân hô như sấm, gươm tua tủa dưới trăng.

Chàng trai lái đò trên bến Kinh Thầy thành đô tướng, huấn luyện thủy quân.

Những đêm trăng sáng. Nước loang loáng, kiếm loang loáng.

Gió hun hút ngày giáp Tết.

Đôi mắt khoảng mênh mang.

- Nữ tướng nhớ về vùng 

đất cũ?

- Cha mẹ của ta, hoa đào.

- Đêm dưới bến Kinh Thầy người không tới, đáy sông đâm nát bấy.

- Khoan nhắc đến chuyện đó. Kiếm vẫn chưa dùng, bàn tay ta còn nguyên vết tuốt sắc.

Đô tướng xô mình xuống sông, múa kiếm dưới nước.

- Ta sẽ là con cá kình cho nữ tướng, máu phun hồng ngày khai kiếm.

- Cha bảo rằng kẻ dùng kiếm nhưng không vị kiếm. Hãy ngụp lặn tới tận đáy đen của dòng sông để biết nước sông lạnh thế nào. 

Giữa vùng lau lách.

Quân luyện trên đầm nước,  thủy quân tứ bề táp tới, gươm giáo tua tủa, nữ tướng múa bài độc kiếm vô hình. Kiếm loang loáng như gió, mặt người lặng như không. Núi phía xa là vùng An Biên xanh thẫm, ta đã giấu kiếm trong vườn đào.

Hát Môn nổi sóng.

Lê Chân đưa quân về xứ Đoài tụ nghĩa dưới lá cờ Trưng Thị.

Quân đua chiến, kiếm sắc tuốt, thành trì giặc đổ dần. Nghĩa dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố nhất tề vùng dậy.

Chiến trận. Nữ binh làm tướng. Những chuyện chưa từng thấy bao giờ.

Thôn nữ mảnh mai thành nữ sĩ quyết tử. Lê Chân từ vùng An Biên, Bát Nàn từ Tiên La, Thiều Hoa từ Tổng Khai, Xuân Nương từ Hương Nha, Thánh Thiên từ Bích Uyển hợp sức cùng nghĩa sĩ bốn phương dưới lá cờ Trưng Thị quyết chiến. 

Trận chiến không dứt, đô tướng thủy quân trỏ gươm lên trời than thở.

- Binh lửa xông pha có sợ làm tổn danh sắc.

Người con gái thít dải lụa chàm trên tóc, đăm đăm nhìn về đông.

- Cha mẹ ta rơi đầu vì giặc, vườn đào nhà ta bị xéo nát, danh sắc vội chưa nghĩ đến.

Tì tướng đưa gươm lên ngang mày.

- Thân nhục này cũng không nghĩ đến, xin tuốt một đường ghi nhớ.

Nghĩa dân đồng loạt ứng chiến, kẻ giặc không đủ sức chống chọi. Máu quân thù chảy tràn khắp nơi, dòng sông ta vượt qua giống hệt sông Kinh Thầy, sông Đạm Thủy. Đâu là bến nước xếp đá xanh một lượt làm nơi rửa chân, kín nước cho thôn nữ. Ta tha hồ rắc hoa đào.

Giặc nguy khốn, đường nào thoát chạy. 

Quân vây khắp nơi.

Mặt người lam khói, mắt thiêu sáng.

Đàn bà làm soái tướng.

Năm 40, ngày mười lăm tháng tám, 65 thành trì đã quét sạch lũ cai trị. Thái thú Tô Định vứt ấn tín, cạo râu, giả làm dân thường trốn về Nam Hải.

Chiến thắng gầm đất trời. Đất Giao Chỉ có vương nữ đầu tiên, trăm họ suy tôn Trưng Trắc là Vua, đóng đô ở đất Mê Linh.

Nữ tướng vùng An Biên được tấn phong là Thánh Chân công chúa, trọng trách Chưởng quản binh quyền, thống lĩnh binh lực, kiêm trấn thủ cùng biển Đông Bắc.

Dân khắp xứ tưng bừng ngày xuân tiết.

Thay lại trang phục cho đúng với phong tục dân Giao Chỉ.

Tóc dài.

Răng đen.

Bánh chưng.

Bánh dày.

Hoa đào rét sớm không ra kịp nhưng nhớ lời cha dù không được cũng chọn lấy cành lộc đào làm vị Tết.

Năm 42, vua Hán sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng, Lâu thuyền là Đoàn Chí sang đánh Trưng Vương.

Quân Mã Viện vây đánh khắp nơi, những chiến binh Giao Chỉ mới quen cầm giáo không đủ sức giao chiến với quân thù.

Trưng Vương đưa quân về vùng Lãng Bạc tử chiến.

Cánh quân Lê Chân tiến về Lạt Sơn. Nhất quyết không để chịu bắt. Ta sẽ kháng cự đến cùng.

Quân mã chạy túa, những binh sĩ, anh em, họ hàng của ta, hãy luồn rừng thoát vây trở về đất cũ, chờ thời mới.

Tì tướng mặt lưu vết khói, máu khô đọng trên vai, chìa tay ra, vết kiếm tuốt nổi trên bàn tay.

- Ngươi hãy trở về quê cũ, trời định rồi, sức ta không thắng được.

- Hôm đợi dưới bến Kinh Thầy lòng ta đã quyết. Người không đến ta đâm nát dòng sông. Ta quyết cùng người tử chiến nơi đây.

Vòng vây hẹp dần.

Tiếng thét. Kẻ ngồi trên lưng ngựa, nét thanh tú kia chính là nữ chủ tướng, bắt sống lấy.

Quân xông ra bảo vệ nữ chúa. Gươm múa tơi bời, độc kiếm vô hình. Đầu giặc rụng tơi bời.

Tên bắn tua tủa. Người lao ra như mưa. Trong đám tên mưa hỗn hoạn ấy, người tì tướng vững chãi như thành đồng, vai trần xăm những hình quái sông, thuồng luồng lao ra tử chiến. Tì tướng xuất thân người lái đò trên sông Kinh Thầy.

Quân giặc bu vào chỗ ấy, gươm vung loang loáng, người chặn trên xả dưới, kiếm vung túi bụi, đám giặc xông vào, dội ra. Bóng lưng trần tả xông hữu đột, mở đường máu, không cho giặc chạm tới chủ tướng.

Vòng vây co cụm, giáo giặc đan lại một vòng, tất thảy mũi nhọn chĩa vào. Tiếng gươm lạnh buốt, tổ kiến lửa bu vào con mồi, bung ra, vỡ ra, mở rầm rĩ, náo loạn.

- Xin chủ nhân đừng để giặc chạm đến, tôi quyết chết vì người.

Tiếng kêu xé họng nhỏ dần, máu phun khắp nơi, giáo giặc chõ lại như xiên vào tổ ong. Tiếng thét cuối cùng trước khi vĩnh biệt: “Ta không bao giờ nhìn thấy nàng nữa rồi, chưa nhận được một lời âu yếm từ người con gái làng An Biên”. Mũi giáo lạnh buốt thấu gan ruột. 

Lê Chân rạp trên mình ngựa thoát khỏi vòng vây, khắc cuối cùng thấy ánh mắt âu yếm của chàng lái đò trên sông Kinh Thầy. Người thúc ngựa, không nhìn về phía sau nữa.

Ngựa phi như bay, nhằm thẳng đỉnh Giáp Dâu hướng tới. Giống như núi Vàn quê ta. Ta sẽ tiến đến đó, quyết không để cho giặc chạm vào thân thể.

Từ đỉnh Giáp Dâu, Lê Chân thúc ngựa phi xuống như gió, nàng không nhìn cây cỏ chắn đường. Trước mắt nàng là sông Đạm Thủy hiền hoà, sông Kinh Thầy uốn lượn. Rừng cây phía dưới là đồi hoa đào bát ngát, chọt độc một màu, lá quăn rụng gần hết, độc màu hồng tươi rói.

Màu hồng của hoa đào vườn nhà ta. Xuân ấm sớm, hoa có giữ được trên cành. Mái nhà đằng xa là bản quán nhà ta, có ai còn nghĩ đến, bao đêm trăng ta vui thú dưới vườn đào.

Ngựa phi xuống, quỵ dần. Nước mắt ngựa chiến rỏ xuống, chân gãy nát, ngựa không rướn thêm được nữa, trước mặt nàng một khoảng nhạt nhòa. Nhân ảnh dưới kia là mẹ cha ta đang đón ta, vườn đào, hoa đào trải rắc lối đi trong vườn.

Nàng lao xuống thân ngựa, không gì cản được nữa, không sợ hãi, luyến tiếc. Tất cả bao quanh một sắc hồng thắm, ta trở về với hoa đào, ta buông xuống đây.

Người tuốt kiếm phi lên trời.

Lê Chân tuẫn tiết trên đỉnh Giáp Dâu. 

Xuân tiết, hoa đào thả hồng trong vườn, sắc hoa vẫn thắm trên cành. Những thân đào giập nát vùng đồi An Biên cũng nảy lộc nhú búp màu hồng. 

Dân làng An Biên xây đền thờ trên núi Vàn, tôn nữ tướng làm thành hoàng làng. Đền một năm có ba ngày hội. Mồng tám tháng hai nhằm ngày sinh, mười lăm tháng tám giỗ trận, hai lăm tháng Chạp nữ tướng tuẫn tiết trên đỉnh Giáp Dâu.

Trời buông rét, chỉ vài hôm nữa là Tết, hoa đào chờ ngày khai mãn hồng rộ khắp nơi. Bóng một thiếu nữ đi nhặt hoa trong vườn đào niên dưới chân núi Vàn.