Tung ảnh khỏa thân khắp chợ, đòi nạn nhân chuộc ảnh 400 triệu đồng, có phạm tội hình sự?

Chủ nhật 10/11/2013 07:06

ANTĐ - Chị A làm nghề buôn bán tại một chợ thị trấn của tỉnh H, những ngày gần đây ra chợ, chị A thấy ở chợ xì xào bàn tán, và nhiều người nhìn chị với ánh mắt khác lạ. Chị A nghĩ việc bàn tán có liên quan đến mình, dò hỏi những người đi chợ thì được biết mọi người đang chuyền tay nhau xem một bức ảnh người phụ nữ khỏa thân và bàn luận vì bức ảnh đó. 

Chị A tìm cách để xem được bức ảnh thì thấy khuôn mặt trên bức ảnh đó là của mình. Quá bức xúc vì hình ảnh của mình bị đem ra chợ bôi xấu, chị T đã truy tìm nguồn gốc người tung ra bức ảnh đó. Kết quả là bà X cũng làm nghề buôn bán tại chợ là người đã cung cấp bức ảnh có hình của chị A. Bà X có chị ruột là bà H. Bà H cho biết bức ảnh đó là do em dâu bà tình cờ phát hiện trong máy điện thoại của chồng mình là anh Y (em trai bà H). Bà H đã đi in tấm ảnh đó ra với ý định để mách với gia đình, nhưng không ngờ lại bị nhiều người ở chợ lấy ra và phát tán.

Chị A đã tìm gặp bà X để hỏi về việc ảnh của mình bị phát tán. Bà X thừa nhận có giữ tấm ảnh khỏa thân và nói với chị A chuẩn bị 400 triệu để chuộc những tấm ảnh đó lại. Sau khi chị A nói chuyện với bà X thì tấm ảnh khỏa thân có mặt chị A vẫn xuất hiện tại chợ. Chị A đã viết đơn trình báo cơ quan về vụ việc trên. Sau đó, bà X có thừa nhận việc bà yêu cầu chị A chuẩn bị 400 triệu để chuộc ảnh nhưng chỉ là nói đùa. Vậy bà X có phạm tội không? Ngoài bà X, bà H và em dâu bà H cố tình in ảnh của chị T có phạm tội không?



Ý kiến bạn đọc 

Hành vi của bà X là phạm tội làm nhục người khác

Chưa cần biết bức ảnh trong tư thế không mặc quần áo được phát tán tại chợ thị trấn là ảnh ghép hay ảnh thật, nhưng chị A đã khẳng định khuôn mặt trong bức ảnh là của mình vì vậy việc phát tán bức ảnh đó ra chợ cho nhiều người khác biết là hành động có chủ ý làm nhục người khác. Việc phát tán ảnh của chị A đã làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của chị A, bêu riếu chị A làm mất uy tín của chị A đối với mọi người trong chợ, thậm chí còn làm tổn thương đến tình cảm gia đình của chị A.

Việc bà X biết đó là ảnh chị A nhưng vẫn phát tán cho mọi người truyền tay nhau xem và bàn tán là hành vi cố ý. Hành vi này có dấu hiệu cấu thành tội “Làm nhục người khác” được quy định tại điều 121 - Bộ luật Hình sự. Tội phạm được quy định cụ thể như sau: Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Nếu hành vi thoả mãn “Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, bà X còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 253 Bộ Luật hình sự với mức phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Anh Trần Đức Hà (Tây Hồ, Hà Nội)

Quyền bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ

Quyền bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ mọi người khác không có quyền xâm phạm.  Điều 38 Bộ luật dân sự quy định quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý...

Trong trường hợp này bà H và em dâu bà H đã không tôn trọng quyền bí mật đời tư của chị A. Em dâu biết được bức ảnh, đã tạo điều kiện để bà H có bức ảnh, bà H là người trực tiếp đi in bức ảnh để công bố với gia đình mà không được sự đồng ý của chị A tức là bà H và em dâu bà H đã có hành vi thu tập thông tin của chị A để công bố cho mọi người biết là vi phạm Luật dân sự Việt Nam.

Việc bà H cho rằng chỉ in ảnh để mách với mọi người trong gia đình, nhưng không biết tại sao ảnh lại bị phát tán ra chợ, cần phải được làm rõ. Nếu hành vi của bà H, em dâu bà H đã cố tình cho bà X biết bức ảnh để tung ra chợ là cũng đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác”, cần phải bị xử lý. Đồng thời cũng cần xem xét hành vi của em trai bà H là anh Y xem vì sao anh ta có bức ảnh đó trong điện thoại và có động cơ, mục đích gì trong việc để cho vợ có được bức ảnh đó hay không?

Chị Cao Vân Anh (Hoài Đức, Hà Nội) 

Bình luận của luật sư Phạm Hồng Hải

Hành vi thu thập, phát tán ảnh khỏa thân chị A của bà X, bà H và em dâu bà H. có thể là hành vi vi phạm Bộ luật Hình sự và Luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam. Tuy nhiên cần xem xét kỹ các chi tiết chúng ta mới có đủ căn cứ pháp luật để định tội danh.

1 -  Khi em dâu bà H. nhìn thấy ảnh khỏa thân của chị A trong máy điện thoại của chồng mình, sao lục, cất giữ, có thể là hành vi thu thập trái phép thông tin cá nhân của người khác. Tuy nhiên, vì ảnh có trong điện thoại của của chồng mình, người có quan hệ quan trọng với đời sống tình cảm của mình, việc em dâu bà H. sao lục ảnh khỏa thân của chị A. về mặt động cơ chỉ là để thuyết phục chồng từ bỏ các quan hệ ngoài hôn nhân, nghĩa là để bảo vệ quyền lợi của mình, không gây thiệt hại đến quyền lợi của chị A. Về mặt động cơ, không có dấu hiệu của việc vi phạm điều 38 Luật Dân sự. Nếu em dâu bà H. không tìm thấy ảnh khỏa thân của chị A. trong máy điện thoại của chồng mình mà cố tìm, sưu tập ảnh khỏa thân của chị A. thì mới có dấu hiệu vi phạm điều 38 luật Dân sự. Tuy nhiên nếu em dâu bà H. chuyển ảnh khỏa thân của chị A. cho bà H. nhằm mục đích phát tán ảnh với những động cơ khác, em dâu bà H. sẽ là đồng phạm của bà H. và bà X. trong những hành vi vi phạm pháp luật sau:

2 - Hành vi phát tán ảnh khỏa thân chị A. của bà X. có dấu hiệu của 2 tội danh: Làm nhục người khác ( Điều 121 Bộ luật Hình sự) và Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 253 Bộ luật Hình sự). Xem xét cụ thể, bà X. là người quen biết chị A. và diện phát tán là trong khu vực cư trú của chị A. Hành vi của bà X. rõ ràng nhằm mục đích cụ thể là để cho mọi người đánh giá chị A. là người xấu xa, mất nhân cách, là làm nhục chị A. Hành vi này đủ cấu thành tội Làm nhục người khác theo điều 121 Bộ luật Hình sự. Hành vi phát tán các ảnh khỏa thân (không phải tác phẩm nghệ thuật) của chị A. ra cộng đồng làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa và đạo đức xã hội cũng vi phạm điều 253 Bộ huật Hình sự: Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Tuy nhiên theo nguyên tắc không truy cứu 2 tội cho một hành vi, nên ở đây, chắc chắn bà X. sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì vi phạm điều 121 Bộ luật Hình sự: Làm nhục người khác. 

Nếu em dâu bà H. chuyển ảnh khỏa thân chị A. cho bà H. với mục đích phát tán, em dâu bà H cũng sẽ bị truy cứu theo tội danh này với vai trò đồng phạm. Bà H, chuyển ảnh khỏa thân chị A. cho bà X. với mục đích phát tán, bà H cũng sẽ bị truy tố theo tội danh này với vai trò đồng phạm với bà X.

3 - Sau khi thấy ảnh khỏa thân của mình, chị A. có đến hỏi bà X. và được bà X. cho biết phải chuẩn bị 400 triệu để chuộc ảnh. Sau đó ảnh vẫn bị phát tán. Bà X. có phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo điều 135 Bộ luật Hình sự không? Về mặt động cơ. Chúng ta thấy bà X. đã phát tán ảnh khỏa thân chị A. ra cộng đồng. Việc phát tán là một việc đã được thực hiện và không có khả năng khắc phục. Bà X. không dùng ảnh khỏa thân chị A. để đe dọa chị A. trước khi phát tán và ngay sau đó cũng không có hành vi dừng phát tán bởi khi ảnh đã bị phát tán.

Vì vậy, việc chỉ nói “chuẩn bị 400 triệu đồng chuộc ảnh” nhưng không nhận tiền, cùng với lời khai là chỉ nói đùa, sẽ là những tình tiết cần phải cân nhắc trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự bà X theo tội danh Cưỡng đoạt tài sản theo điều 135 Bộ luật Hình sự. Đúng là tội “Cưỡng đoạt tài sản” là nhóm tội có cấu thành hình thức. Tức là không cần phải chiếm được tài sản tội mới hoàn thành, khi người phạm tội có hành vi mà điều luật mô tả thì tội phạm đã hoàn thành. Nhưng trong trường hợp này, cần phải xem xét rõ động cơ của bà X, phát tán ảnh chỉ bêu xấu chị A, hay phát tán ảnh để tống tiền chị A. Nếu chỉ để bêu xấu và nói đùa đòi chuộc để chọc tức chị A thì không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 135 Bộ luật Hình sự với tội danh Cưỡng đoạt tài sản với bà X.

Nhóm PV