Đường xa, gánh nặng

(ANTĐ) - Trong văn kiện Đại hội Đảng IX (năm 2001) đề ra mục tiêu “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (tháng 3-2010), một lần nữa khẳng định đây là một mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020. Vậy định nghĩa theo tiêu chuẩn như thế nào thì được coi là một nước công nghiệp về cơ bản theo hướng hiện đại?

Đường xa, gánh nặng

(ANTĐ) - Trong văn kiện Đại hội Đảng IX (năm 2001) đề ra mục tiêu “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (tháng 3-2010), một lần nữa khẳng định đây là một mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020. Vậy định nghĩa theo tiêu chuẩn như thế nào thì được coi là một nước công nghiệp về cơ bản theo hướng hiện đại?

Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) phân loại mức độ phát triển công nghiệp căn cứ vào 3 tiêu chí: giá trị gia tăng hàng công nghiệp chế tạo (MVA) trên đầu người; tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo và tỷ trọng ngành công nghiệp chế tạo trong GDP.

Theo tiêu chí này, ở châu Á mới có Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore và Hồng Kông thuộc nhóm công nghiệp hóa thế hệ thứ nhất. Quay trở lại mục tiêu công nghiệp hóa của nước ta, ngay cả khi căn cứ vào tiêu chí đơn giản nhất là MVA trên đầu người thì khoảng cách giữa Việt Nam và một số nước có nền công nghiệp vẫn còn rất xa. MVA trên đầu người của Việt Nam 2008 là khoảng 200 USD.

Trung Quốc đạt được mức này vào năm 1995, Thái Lan năm 1986, Malaysia năm 1977 và Hàn Quốc năm 1976. Có nghĩa là, nếu ta coi Thái Lan hiện nay là mục tiêu của nước ta, thì ngay cả khi Việt Nam tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất rất cao, cũng phải đến năm 2025, MVA trên đầu người của Việt Nam mới bằng mức của Thái Lan năm 2008, tức là khoảng 1.400 USD.

Nếu coi Malaysia vào năm 2008 cơ bản có nền công nghiệp hướng theo hiện đại, thì phải đến năm 2030 MVA trên đầu người của Việt Nam mới đạt được mức của Malaysia hiện nay, với điều kiện công nghiệp nước ta liên tục tăng trưởng trên 10% như hiện nay.

Nên nhớ theo UNIDO, cả Thái Lan và Malaysia cho đến nay vẫn chưa được coi là những nền công nghiệp tiên tiến. Đặt ra mục tiêu phát triển nền công nghiệp mới chỉ là bước khởi động trong việc hình thành nên một chiến lược và chính sách công nghiệp của một quốc gia. Một chuyên gia, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Chính phủ về công nghiệp hóa, nhận xét, nhìn chung cho đến nay kinh tế nước ta vẫn vận hành theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng.

Tức là chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế về lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên và đẩy mạnh đầu tư từ các nguồn vốn trong và ngoài nước. Công nghiệp hóa không chỉ có xi măng, sắt thép. Với các nhà máy đã có, đang xây dựng và được cấp phép sẽ dẫn đến tình trạng vào năm 2020, nước ta sẽ dư thừa khoảng 10 triệu tấn xi măng và khoảng 20 triệu tấn thép/năm.

Trong khi ngành quan trọng có hàm lượng công nghiệp cao như công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử… có thể coi là đi vào ngõ cụt. Nước ta lại nhập khẩu công nghiệp chế tạo cơ khí nặng như đóng tàu, công nghiệp hóa như vậy nếu không có tầm nhìn xa hàng thập kỷ thì nguy cơ trở thành bãi thải công nghiệp là rất lớn.

Trong bối cảnh của nền kinh tế và công nghiệp toàn cầu sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang có những thay đổi để thích nghi, chính sách công nghiệp hóa của nước ta rõ ràng đang đứng trước những thách thức và khó khăn không nhỏ. Đường xa, gánh nặng không ngại, nhưng mục tiêu, đích đến đặt ra phải rõ ràng và khả thi.

Đan Thanh