Để di sản thành tài sản, cần làm gì?

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nam miền Nam
ANTD.VN - Các chuyên gia đến từ Trung Quốc đã chia sẻ những kinh nghiệm quý báu để khai thác di sản, biến di sản thành tài sản, nơi con người nương vào tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị và làm giàu từ chính di sản bản địa.

Ngày 29-11, Sở Văn hoá và Thể thao Hà Nội tổ chức tọa đàm quốc tế “Hành trình để di sản văn hoá thành tài sản” với sự góp mặt của nhiều chuyên gia văn hoá, nhà khoa học của Việt Nam và Trung Quốc. Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa được thúc đẩy mạnh mẽ, Hà Nội là một trong những địa phương sở hữu tiềm năng dồi dào, Tọa đàm nhằm tìm ra giải pháp thiết thực để biến nguồn lực di sản văn hóa thành tài sản.

Giám đốc Sở VHTT Hà Nội Bạch Liên Hương chia sẻ, với bề dày di sản hơn một nghìn năm văn hiến, Hà Nội là địa phương có mật độ di sản dày đặc bậc nhất cả nước, với 6489 di tích lịch sử - văn hóa, gần 1793 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, bao gồm 6 di sản vật thể và phi vật thể được UNESCO vinh danh, 22 di tích và cụm di tích quốc gia đặc biệt, 1.165 di tích cấp quốc gia, 1.600 di tích cấp thành phố, 59 di sản được ghi vào danh mục quốc gia về văn hóa phi vật thể.

Tiết mục nghệ thuật tại tọa đàm

Tiết mục nghệ thuật tại tọa đàm

Bà Bạch Liên Hương cũng chia sẻ, nếu như lịch sử đã làm nên một Thăng Long kiêu hãnh trong truyền thống, thì chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo hôm nay đang mở ra cho Hà Nội một hành trình mới – hành trình kiến tạo bản sắc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và công nghệ hóa. Trên tinh thần đó, Hà Nội mang trên vai trách nhiệm lịch sử: trở thành hình mẫu về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên số, nơi hội tụ trí tuệ, sáng tạo và khát vọng Việt Nam.

Tại tọa đàm, các chuyên gia văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc cũng đưa ra những đánh giá, bài học trong quá trình phát triển công nghiệp văn hoá, biến các nguồn lực văn hóa thành tài sản có giá trị.

GS. Hướng Dũng, Đại học Bắc Kinh cho biết, có 3 nguyên tắc bảo vệ di sản văn hóa: nguyên tắc kế thừa song song dành cho văn hóa cổ đại (đối xử có phân biệt, kế thừa có chọn lọc), nguyên tắc thực hành kế thừa kép dành cho văn hóa ưu tú (việc lựa chọn phù hợp với văn hóa đương đại, hài hòa với xã hội hiện đại) và nguyên tắc hai sáng tạo - kế thừa và đổi mới danh cho văn hóa (chuyển hóa sáng tạo và phát triển đổi mới).

Các đại biểu tham gia tọa đàm.

Các đại biểu tham gia tọa đàm.

Để sáng tạo thẩm mỹ cho di sản, tạo thành các sản phẩm văn hóa cần dựa trên nguồn lực di sản, tạo ra thẩm mỹ cho di sản văn hóa và đưa sáng tạo đó vào cuộc sống. Trong đó, giá trị thẩm mỹ của di sản được tạo ra bằng việc tạo hình ảnh cho di sản, sáng tạo ý cảnh (ý nghĩa tinh thần và hiện thực của giá trị di sản), trải nghiệm và chứng thực. Di sản văn hóa được chuyển thành các sản phẩm văn hóa gồm đồ dùng hàng ngày, sản phẩm phổ biến, hàng xa xỉ và bộ sưu tập nghệ thuật.

Theo GS Hướng Dũng, để tăng cường sáng tạo cho di sản văn hóa cần số hóa di sản, nhằm phá vỡ giới hạn không gian và thời gian, thúc đẩy khả năng truyền tải di sản. Bên cạnh đó là công nghiệp hóa IP nhằm khai thác lõi văn hóa, mở rộng chuỗi giá trị kinh tế như tạo ra thương hiệu, cấp bằng sáng chế, bản quyền, giá trị quyền sở hữu trí tuệ.

Trong tham luận "Kế thừa di sản và phát triển công nghiệp văn hóa trong thực tiễn nghệ thuật kiến tạo nông thông", PGS. TS Khuất Hành Phủ (Đại học Công nghiệp Quảng Đông) cho biết, bắt đầu từ năm 2007, các nghệ sĩ đương đại, nhà giám tuyển, nhà thiết kế, giảng viên và sinh viên các trường đại học của Trung Quốc đã tham gia vào nông thôn với những quan niệm văn hóa và lý tưởng độc đáo của mình, mở ra làn sóng bùng nổ của "Nghệ thuật kiến tạo nông thôn". Sau đó, các thực tiễn kiến tạo nông thôn liên quan liên tục xuất hiện trên khắp Trung Quốc. Sự lan tỏa của thực tiễn cũng thúc đẩy lĩnh vực nghệ thuật kiến tạo nông thôn không ngừng tạo ra những hình thái kinh nghiệm mới. Họ đã thúc đẩy sự phát triển đa dạng của ngành công nghiệp văn hóa nông thôn qua việc chuyển đổi sáng tạo và phát triển đổi mới di sản văn hóa nông thôn.

GS Hướng Dũng đóng góp tham luận

GS Hướng Dũng đóng góp tham luận

Dưới sự can thiệp ôn hòa của các hình thức nghệ thuật cảm tính và những hành động tương ứng, các hình thái thẩm mỹ đa dạng như di sản kiến trúc nông thôn, kỹ nghệ thủ công, trình diễn nghệ thuật được thể hiện theo phương thức hiện đại, hòa nhập sâu sắc vào hoạt động thường nhật của ngành công nghiệp du lịch văn hóa nông thôn.

Các dự án nghệ thuật này đã tái sinh không gian di sản kiến trúc nông thôn, chuyển biến hiện đại kỹ thuật thủ công và tổ chức linh hoạt các buổi trình diễn nghệ thuật.

PGS.TS Khuất Hành Phủ chia sẻ, dưới sự thúc đẩy của thực tiễn nghệ thuật kiến tạo nông thôn, di sản văn hóa địa phương đã được làm sống lại, hòa nhập vào đời sống đương đại dưới những hình thái mới, thực hiện sự dung hợp ở tầng sâu hơn giữa văn hóa và công nghiệp. Con đường của nó từ việc đổi mới không gian, phục hưng kỹ nghệ đến việc trải khai các buổi trình diễn nghệ thuật, đã dần hình thành một chuỗi ngành công nghiệp văn hóa thông suốt. Trong quá trình thực tiễn, dự án đã tích lũy được động lực văn hóa có khả năng tự sinh trưởng, tạo ra sự hỗ trợ ổn định và lâu dài cho sự phát triển bền vững của nông thong. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế dài hạn thúc đẩy chấn hưng ngành công nghiệp nông thôn, đẩy mạnh chấn hưng toàn diện nông thôn, thực hiện mục tiêu "nông nghiệp cường, nông thôn mỹ, nông dân phú" (nông nghiệp vững mạnh, nông thôn tươi đẹp, nông dân giàu có).

Nghệ nhân Lý Khả Minh đã mang đến bài thuyết trình sinh động từ thực tế hoạt động, khai thác giá trị của gốm Nhữ, một loại gốm có từ thời Tống, tuổi đời hơn 800 năm.

Theo đó, công ty Nhữ Sơn Minh đã khai thác màu xanh đặc trưng của gốm Nhữ để tạo thành các sản phẩm trong sinh hoạt hàng ngày như bình đựng rượu, bát hâm rượu, hộp đựng quà... Sáng tạo của công ty Nhữ Sơn Minh đã trở thành hình mẫu tiêu biểu cho việc chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành động năng thị trường và đưa kỹ nghệ kinh điển hòa nhập và cuộc sống.

Nghệ nhân Lý Khả Minh cho biết, trong quá trình tìm tòi, chúng tôi đã dần hình thành những con đường đa chiều để kích hoạt sức sống của di sản phi vật thể. Thực tiễn cho thấy, thương hiệu di sản phi vật thể có thể giải phóng giá trị ngành nghề thông qua 3 con đường chính.

Thứ nhất là sức mạnh tái sinh văn hóa lấy nền tảng văn hóa làm cội nguồn nội dung để không ngừng sáng tạo, đổi mới.

Thứ hai là sức mạnh hội nhập ngành nghề lấy thương hiệu làm trung tâm, khai thông chuỗi giá trị khép kín "Thiết kế - sản xuất - trải nghiệm - tiêu dùng".

Thứ ba là sức mạnh truyền thông thông điệp. Điểm khó trong phát triển thương hiệu văn hóa nằm chính ở bước nhảy vọt từ việc sao chép kỹ năng nghề truyền thống đến chắt lọc tinh thần.

TS. Trần Thị Thủy, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã chỉ ra những điểm mạnh của Hà Nội trong khai thác nguồn lực di sản như điểm mạnh về vị thế, điểm mạnh về tài nguyên di sản, điểm mạnh về thể chế. Trong đó, bà nhấn mạnh tới mục tiêu của Hà Nội đặt ra đến năm 2030, ngành công nghiệp văn hóa Thủ đô sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, đóng góp 8% GRDP của thành phố.

Tuy vậy, TS. Trần Thị Thủy cũng chỉ ra những điểm hạn chế của Hà Nội trong việc phát huy giá trị di sản thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Đó là nhận thức vai trò của công nghiệp văn hóa chưa đầy đủ, đặc biệt thiếu kỹ năng xây dựng mô hình cụ thể phù hợp với đặc sắc văn hóa địa phương, cơ chế xã hội hóa chưa đủ mạnh để thu hút nguồn lực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghiệp văn hóa vẫn còn thiếu hụt, hạ tầng công nghiệp và cơ sở dữ liệu di sản văn hóa còn phân tán, chưa tập trung, hệ sinh thái công nghiệp văn hóa chưa hoàn thiện, thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu và phương pháp định lượng cụ thể, chính xác về đóng góp của các lĩnh vực công nghiệp văn hóa đối với toàn ngành, với các ngành khác cũng toàn như toàn bộ nền kinh tế Thủ đô.

Từ những điểm mạnh cũng như hạn chế của Hà Nội trong khai thác di sản, TS.Trần Thị Thủy đề xuất các giải pháp như tiếp tục xây dựng các chương trình tập huấn cho xã phường về cách thức khai thác để biến di sản văn hóa thành tài sản thúc đẩy công nghiệp văn hóa Hà Nội phát triển. Có thể nghĩ đến việc xây dựng thí điểm các mô hình cụ thể ở các địa ph ương khác nhau. Bên cạnh đó là việc nghiên cứu xây dựng Bộ chỉ số đo lường đóng góp của các lĩnh vực trong ngành công nghiệp văn hóa với toàn bộ ngành, với ngành kinh tế khác và tổng thể diện mạo kinh tế xã hội của Thủ đô. Đồng thời nghiên cứu, xây dựng đồng bộ ngân hàng dữ liệu số hóa các di sản văn hóa, xây dựng cơ chế để dữ liệu này có thể được khai thác cho các ngành kinh tế khác. Đây là con đường trao quyền cho văn hóa trở thành động lực cho sự phát triển của nền kinh tế.